Thứ ba, 21/8/2018 12:39:42
Hỗ trợ trực tuyến
0902 308 316
Phụ Trách Kinh Doanh
0902 430 201
Nhân Viên Kinh Doanh
0902 304 201
Nhân Viên Kinh Doanh
0902 316 308
Nhân viên kinh doanh
0906 304 310
Nhân viên kinh doanh
0903 304 310
Nhân Viên Kinh Doanh
 
Liên kết
Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo
Thống kê
mod_vvisit_counterHôm nay357
mod_vvisit_counterHôm qua530
mod_vvisit_counterTuần này1128
mod_vvisit_counterCuối tuần2775
mod_vvisit_counterTháng này10143
mod_vvisit_counterCuối tháng26494
mod_vvisit_counterTổng số445801
Số người online: 11
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
 
Trang chủ|Giới thiệu|Sản phẩm|Dịch vụ|Tin tức & sự kiện|Tuyển dụng|Hoạt động|Liên hệ
  
Tin tức & sự kiện
Giá thép tấm Việt Nam khó tăng

Hiện tại, giá thép tấm SS400 14-20mm gần như không đổi tại hầu khắp các thị trường như Hải Phòng và Đồng Nai. Nhận thấy người mua vẫn trong tâm lý chờ đợi, các thương nhân nhận định giá mặt hàng này khó mà tăng được trong thời gian ngắn tới.

Một thương nhân Hải Phòng cho hay giá thép tấm SS400 14-30mm hiện đạt mức 13.6 triệu VND/tấn (645 USD/tấn) đã gồm VAT, không đổi so với tuần  trước.

Với sản lượng bán ra 300 tấn trong tuần qua, các nguồn tin cho biết nhu cầu tiêu thụ đã ngưng tăng trong 2 tuần qua. Đa phần các khách hàng hiện tại chỉ theo dõi thị trường trước Năm Mới. Do đó, giá không có khả năng tăng lên trong một hay hai tuần tới.

Một thương nhân khác tại Đồng Nai cho biết đang chào bán thép tấm SS400 6-10mm tại mức 13.3 triệu VND/tấn (631 USD/tấn) đã gồm VAT, không đổi so với tuần trước.

Các nguồn tin cũng tiết lộ rằng thị trường nội địa đang diễn biến chậm chạp do thiếu sự hỗ trợ từ nhu cầu tiêu thụ từ người dùng cuối. Trong khi đó, giá chào từ Hàn Quốc và Nhật Bản vẫn ổn định ở mức 560-570 USD/tấn CFR Ho Chi Minh, tuy nhiên, các nhà nhập khẩu Việt Nam chỉ đặt mua một lượng hàng nhỏ do tiêu thụ trì trệ. Dự báo thị trường khó mà khởi sắc  được trong thời gian ngắn tới.

.
 
18 doanh nghiệp thép kiến nghị chưa áp thuế chống bán phá giá

Ngày 17.12, nhóm 18 doanh nghiệp trong nước sản xuất các sản phẩm từ thép không gỉ cán nguội (TKG) nhập khẩu nước ngoài cho biết đã kiến nghị tạm thời chưa phê chuẩn lệnh áp thuế chống bán phá giá của Cục Quản lý cạnh tranh trong vụ điều tra chống bán phá giá mặt hàng TKG.

Theo đơn đồng gửi lên Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Công thương, các doanh nghiệp này đưa ra nhiều lập luận, phân tích qua đó cho rằng, kết luận sơ bộ của Cục quản lý cạnh tranh là thiếu chứng cứ khách quan, dữ liệu sai lệch so với thực tiễn, đồng thời cần xem xét lại tư cách khởi kiện của nguyên đơn do không phù hợp với pháp luật Việt Nam và quy định của WTO…

Trước đó, ngày 3.12, Cục quản lý cạnh tranh công bố kết luận sơ bộ điều tra chống bán phá giá TKG nhập khẩu và công bố mức thuế sơ bộ từ 6,45% đến 30,73%.

.
 
Khánh thành nhà máy chế biến 80.000 tấn thép mỗi năm

Ngày 18/12, tại Khu công nghiệp Tân Tạo, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, Công ty cổ phần đầu tư thương mại SMC chính thức khánh thành Nhà máy gia công, chế biến thép (Coil Center) SMC Tân Tạo.

Đây là Coil Center thứ tư và cũng là công trình lớn nhất chào mừng kỷ niệm 25 năm thành lập SMC.

Phát biểu tại lễ khánh thành, ông Nguyễn Ngọc Anh, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng giám đốc SMC cho biết năm 2013, SMC dự kiến cung cấp cho khách hàng gần 700.000 tấn thép các loại, trở thành một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thép hàng đầu Việt Nam.

SMC Tân Tạo có tổng mức đầu tư 175 tỷ đồng, xây dựng trên diện tích 12.500m2, được trang bị hai dàn máy xả băng và cắt tờ các loại thép cuộn cán nóng trị giá 60 tỷ đồng, công suất gia công 80.000 tấn thép/năm.

Nhà máy này sẽ cung ứng sản phẩm sau gia công cho các ngành công nghiệp kết cấu thép, đóng tàu xà lan, sản xuất ống thép, xà gồ trụ điện và các ngành công nghiệp cơ khí, giao thông vận tải, điện cơ...

Về lĩnh vực xuất nhập khẩu, năm 2013 SMC đã có sản lượng xuất nhập khẩu các loại thép đạt mốc 430.000 tấn, trong đó nhập khẩu đạt 360.000 tấn, xuất khẩu 70.000 tấn, thị trường chủ yếu là Campuchia, Malaysia và Singapore. Cũng trong năm nay, thông qua 3 nhà máy, SMC đã gia công chế biến 180.000 tấn thép tấm, thép lá và thép mạ các loại.

Nhân dịp này, lãnh đạo SMC vinh dự được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất và cá nhân bà Thìn, trưởng phòng Tổng hợp nhận bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trao biển đồng cho công trình SMC Tân Tạo./.

Nguồn tin: Vietnam+

.
 
Đề nghị áp thuế chống bán phá giá thép không gỉ nhập khẩu
Đề nghị áp thuế chống bán phá giá thép không gỉ nhập khẩu
Cục Quản lý cạnh tranh kết luận thép nhập khẩu bán phá giá gây khó cho ngành sản xuất thép trong nước.

NDĐT - Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công Thương (Cơ quan điều tra) vừa công bố Kết luận điều tra sơ bộ vụ việc điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với mặt hàng thép không gỉ cán nguội nhập khẩu từ Trung Quốc, Indonesia, Malaysia và Đài Bắc - Trung Quốc.

Theo kết luận của Cục Quản lý cạnh tranh, các công ty thuộc bốn quốc gia/vùng lãnh thổ nói trên khi xuất khẩu thép vào Việt Nam đã gây khó khăn cho ngành sản xuất thép trong nước. Cục Quản lý cạnh tranh kiến nghị áp dụng biện pháp chống bán phá giá tạm thời trong thời gian 120 ngày đối với các sản phẩm của những công ty này.

Cụ thể, đối với các sản phẩm thép không gỉ cán nguội của các công ty Trung Quốc, mức thuế chống bán phá giá được áp dụng cho Fujian Southeast Stainless Steel Co.,Ltd là 6,45%; áp cho công ty Lianzhong Stainless Steel Corporation là 6,99% và các công ty khác là 6,68%.

Các công ty Indonesia xuất khẩu thép vào Việt Nam sẽ chịu mức thuế bán phá giá 12,03%. Các công ty Malaysia chịu mức thuế 14,38% và các công ty Đài Bắc - Trung Quốc được kiến nghị áp tới 30,73% đối với Yuan Long Stainless Steel Corp và 13,23% đối với Yieh United Steel Corporation và các nhà sản xuất khác.

Ngày 2-12, Cục Quản lý cạnh tranh công bố Kết luận điều tra sơ bộ vụ việc điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với mặt hàng thép không gỉ cán nguội, có mã HS: 7219.32.00; 7219.33.00; 7219.34.00; 7219.35.00; 7219.90.00; 7220.20.10; 7220.20.90; 7220.90.10; 7220.90.90 nhập khẩu vào Việt Nam từ các nước/vùng lãnh thổ: Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Indonesia, Malaysia và Đài Bắc - Trung Quốc (mã số vụ việc 13-KN-BPG-01), phù hợp với quy định tại Điều 17 Pháp lệnh số 20/2004/PL-UBTVQH11 ngày 29-4-2004 về việc chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam.

Trước đó, ngày 2-7-2013, Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 4460/QĐ-BCT về việc điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với mặt hàng thép không gỉ cán nguội nêu trên theo đề nghị của nguyên đơn là Công ty TNHH Posco VST và Công ty CP Inox Hòa Bình.

Theo Cục Quản lý cạnh tranh, mức độ và thời gian áp thuế đối với các công ty kể trên là hoàn toàn thấp hơn nhiều so với kiến nghị trước đó của nguyên đơn là Công ty TNHH Posco VST và Công ty CP Inox Hòa Bình.

Hoàng Tú
.
 
Thép không rỉ là gì?

Lịch sử

Thép không gỉ gắn liền với tên tuổi của một chuyên gia ngành thép người Anh là ông Harry Brearley. Khi vào năm 1913, ông đã sáng chế ra một loại thép đặc biệt có khả năng chịu mài mòn cao, bằng việc giảm hàm lượng carbon xuống và cho crôm vào trong thành phần thép (0.24% C và 12.8% Cr).

Sau đó hãng thép Krupp ở Đức tiếp tục cải tiến loại thép này bằng việc cho thêm nguyên tố niken vào thép để tăng khả năng chống ăn mòn axit và làm mềm hơn để dễ gia công. Trên cơ sở hai phát minh này mà 2 loại mác thép 400 và 300 ra đời ngay trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Sau chiến tranh, những năm 20 của thế kỷ 20, một chuyên gia ngành thép người Anh là ông W. H Hatfield tiếp tục nghiên cứu, phát triển các ý tưởng về thép không gỉ. Bằng việc kết hợp các tỉ lệ khác nhau giữa ni ken và crôm trong thành phần thép, ông đã cho ra đời một loại thép không gỉ mới 18/8 với tỉ lệ 8% Ni và 18% Cr, chính là mác thép 304 quen thuộc ngày nay. Ông cũng là người phát minh ra loại thép 321 bằng cách cho thêm thành phần titan vào thép có tỉ lệ 18/8 nói trên.

Trải qua gần một thế kỷ ra đời và phát triển, ngày nay thép không gỉ đã được dùng rộng rãi trong mọi lĩnh vực dân dụng và công nghiệp với hơn 100 mác thép khác nhau.

Trong ngành luyện kim, thuật ngữ thép không gỉ (inox) được dùng để chỉ một dạng hợp kim sắt chứa tối thiểu 10,5% crôm. Tên gọi là "thép không gỉ" nhưng thật ra nó chỉ là hợp kim của sắt không bị biến màu hay bị ăn mòn dễ dàng như là các loại thép thông thường khác. Vật liệu này cũng có thể gọi là thép chống ăn mòn. Thông thường, có nhiều cách khác nhau để ứng dụng inox cho những bề mặt khác nhau để tăng tuổi thọ của vật dụng. Trong đời sống, chúng xuất hiện ở khắp nơi như những lưỡi dao cắt hoặc dây đeo đồng hồ...

Thép không gỉ có khả năng chống sự ôxy hoá và ăn mòn rất cao, tuy nhiên sự lựa chọn đúng chủng loại và các thông số kỹ thuật của chúng để phù hợp vào từng trường hợp cụ thể là rất quan trọng.

Khả năng chống lại sự oxy hoá từ không khí xung quanh ở nhiệt độ thông thường của thép không gỉ có được nhờ vào tỷ lệ crôm có trong hợp kim (nhỏ nhất là 13% và có thể lên đến 26% trong trường hợp làm việc trong môi trường làm việc khắc nghiệt). Trạng thái bị oxy hoá của crôm thường là crôm ôxit(III). Khi crôm trong hợp kim thép tiếp xúc với không khí thì một lớp chrom III oxit rất mỏng xuất hiện trên bề mặt vật liệu; lớp này mỏng đến mức không thể thấy bằng mắt thường, có nghĩa là bề mặt kim loại vẫn sáng bóng. Tuy nhiên, chúng lại hoàn toàn không tác dụng với nước và không khí nên bảo vệ được lớp thép bên dưới. Hiện tượng này gọi là sự oxi hoá chống gỉ bằng kỹ thuật vật liệu. Có thể thấy hiện tượng này đối với một số kim loại khác như ở nhômkẽm.

Khi những vật thể làm bằng inox được liên kết lại với nhau với lực tác dụng như bu lôngđinh tán thì lớp ôxit của chúng có thể bị bay mất ngay tại các vị trí mà chúng liên kết với nhau. Khi tháo rời chúng ra thì có thể thấy các vị trí đó bị ăn mòn.

Niken cũng như mô-lip-đenvanađi cũng có tính năng oxy hoá chống gỉ tương tự nhưng không được sử dụng rộng rãi.

Bên cạnh crôm, niken cũng như mô-lip-đenni tơ cũng có tính năng oxi hoá chống gỉ tương tự.

Niken (Ni) là thành phần thông dụng để tăng cường độ dẻo, dễ uốn, tính tạo hình của thép không gỉ. Mô-lip-đen (Mo) làm cho thép không gỉ có khả năng chịu ăn mòn cao trong môi trường axit. Ni tơ (N) tạo ra sự ổn định cho thép không gỉ ở nhiệt độ âm (môi trường lạnh).

Sự tham gia khác nhau của các thành phần crôm, niken, mô-lip-đen, ni tơ dẫn đến các cấu trúc tinh thể khác nhau tạo ra tính chất cơ lý khác nhau của thép không gỉ.

Phân loại

Có bốn loại thép không gỉ chính: Austenitic, Ferritic,Austenitic-Ferritic (Duplex), và Martensitic.

  • Austenitic là loại thép không gỉ thông dụng nhất. Thuộc dòng này có thể kể ra các mác thép SUS 301, 304, 304L, 316, 316L, 321, 310s… Loại này có chứa tối thiểu 7% ni ken, 16% crôm, carbon (C) 0.08% max. Thành phần như vậy tạo ra cho loại thép này có khả năng chịu ăn mòn cao trong phạm vi nhiệt độ khá rộng, không bị nhiễm từ, mềm dẻo, dễ uốn, dễ hàn. Loai thép này được sử dụng nhiều để làm đồ gia dụng, bình chứa, ống công nghiệp, tàu thuyền công nghiệp, vỏ ngoài kiến trúc, các công trình xây dựng khác…
  • Ferritic là loại thép không gỉ có tính chất cơ lý tương tự thép mềm, nhưng có khả năng chịu ăn mòn cao hơn thép mềm (thép carbon thấp). Thuộc dòng này có thể kể ra các mác thép SUS 430, 410, 409... Loại này có chứa khoảng 12% - 17% crôm. Loại này, với 12%Cr thường được ứng dụng nhiều trong kiến trúc. Loại có chứa khoảng 17%Cr được sử dụng để làm đồ gia dụng, nồi hơi, máy giặt, các kiến trúc trong nhà...
  • Austenitic-Ferritic (Duplex) Đây là loại thép có tính chất “ở giữa” loại Ferritic và Austenitic có tên gọi chung là DUPLEX. Thuộc dòng này có thể kể ra LDX 2101, SAF 2304, 2205, 253MA. Loại thép duplex có chứa thành phần Ni ít hơn nhiều so với loại Austenitic. DUPLEX có đặc tính tiêu biểu là độ bền chịu lực cao và độ mềm dẻo được sử dụng nhiều trong ngành công nghiệp hoá dầu, sản xuất giấy, bột giấy, chế tạo tàu biển... Trong tình hình giá thép không gỉ leo thang do ni ken khan hiếm thì dòng DUPLEX đang ngày càng được ứng dụng nhiều hơn để thay thế cho một số mác thép thuộc dòng thép Austenitic như SUS 304, 304L, 316, 316L, 310s…
  • Martensitic Loại này chứa khoảng 11% đến 13% Cr, có độ bền chịu lực và độ cứng tốt, chịu ăn mòn ở mức độ tương đối. Được sử dụng nhiều để chế tạo cánh tuabin, lưỡi dao...

Đặc tính của thép không gỉ

Các đặc tính của nhóm thép không gỉ có thể được nhìn dưới góc độ so sánh với họ thép carbon thấp. Về mặt chung nhất, thép không gỉ có:

  • Tốc độ hóa bền rèn cao
  • Độ dẻo cao hơn
  • Độ cứngđộ bền cao hơn
  • Độ bền nóng cao hơn
  • Chống chịu ăn mòn cao hơn
  • Độ dẻo dai ở nhiệt độ thấp tốt hơn
  • Phản ứng từ kém hơn (chỉ với thép austenit)
  • Các cơ tính đó thực ra đúng cho họ thép austenit và có thể thay đổi khá nhiều đối với các mác thép và họ thép khác.

Các cơ tính đó liên quan đến các lĩnh vực ứng dụng thép không gỉ, nhưng cũng chịu ảnh hưởng của thiết bị và phương pháp chế tạo.

Bảng 1 (Phần A). Tính chất so sánh của họ thép không gỉ.

nhóm hợp kim Từ tính 1 Tốc độ hoá bền rèn Chịu ăn mòn 2 Khả năng hoá bền
Austenit Không Rất cao Cao Rèn nguội
Duplex Trung bình Rất cao Không
Ferrit Trung bình Trung bình Không
Martensit Trung bình Trung bình Tôi và Ram
Hoá bền tiết pha Trung bình Trung bình Hoá già

(1)- Sức hút của nam châm đối với thép. Chú ý, một số mác thép bị nam châm hút khi đã qua rèn nguội.

(2)- Biến động đáng kể giữa các mác thép trong mỗi nhóm, ví dụ, các mác không gia được có tính chịu ăn mòn thấp hơn, và khi có Mo cao hơn sẽ có tính kháng cao hơn.

Bảng 1 (Phàn B). Cơ tính so sánh của họ thép không gỉ.

Nhóm hợp kim Tính dẻo Làm việc ở nhiệt độ cao Làm việc ở nhiệt độ thấp3 Tính hàn
Austenit Rất cao Rất cao Rât tốt Rất cao
Duplex Trung bình Thấp Trung bình Cao
Ferrit Trung bình Cao Thấp Thấp
Martensit Thấp Thấp Thấp Thấp
Hoá bền tiết pha Trung bình Thấp Thấp Cao

(3)- Đo bằng độ dẻo dai hoặc độ dẻo ở gần 0 °C. Thép không gỉ Austenit giữ được độ dẻo ở nhiệt độ thấp.

Phân loại theo tiêu chuẩn

Có nhiều biến thể về thép không gỉ và học viện gang thép Mỹ (AISI) trước đây quy định một số mác theo chuẩn thành phần, và vẫn tiếp tục được sử dụng rộng rãi như ngày nay. Ngày nay, SAE và ASTM dựa theo chuẩn của AISI để quy định các mác thép của mình, được đánh chỉ số UNS là 1 kí tự + 5 chữ số đối với các mác thép mới. Phạm vi đánh chỉ đầy đủ nhất của những họ thép không gỉ được sử dụng trong Hiệp hội gang thép (ISS), và sổ tay SEA/ASTM về hệ chỉ số hợp nhất. Các mác thép nào đó khác không có chỉ số chuẩn, mà đang được sử dụng ở các quốc gia khác hoặc các quy định quốc tế, hoặc quy định đối với sản xuất chuyên biệt như các chuẩn về thép dây hàn.

.
 
«Bắt đầuLùi1234Tiếp theoCuối»

Thông tin cần biết
Tỉ giá
Mã NT Giá mua Giá bán
AUD 16898.98 17186.63
CAD 17593.52 17947.15
EUR 26589.91 26907.26
GBP 29484.07 29956.14
HKD 2920.79 2985.42
JPY 207.3 213.8
KWD 0 79557.87
SGD 16804.97 17108.22
USD 23220 23300
(Tỷ giá ngoại tệ của Ngân Hàng Vietcombank 21/08/2018)

LME Official Prices
USD/MT CASH 3 MONTHS
(Cập nhật 21/08/2018)
 


CÔNG TY TNHH THÉP KHÔNG RỈ KIM THÀNH
Địa chỉ: 818/45/1 Trương Đăng Quế - Phường 3 - Q. Gò Vấp - TP. HCM
Văn Phòng & Tổng Kho: 100/1 Đường An Phú Đông 25 - Phường An Phú Đông - Quận 12 -  TP. HCM
Tel: (08) 37198723 - 37198724 Fax: (08) 37198722

.